Câu 1: Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân (TNCN), có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Người nộp thuế băn khoăn, lương tháng 12/2025 được chi trả vào tháng 1/2026 thì khi tính mức giảm trừ gia cảnh có được áp dụng theo mức mới không?
Theo Luật Thuế TNCN hiện hành, Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ, thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.
Riêng thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm có tích lũy theo hướng dẫn tại thông tư là thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện trả tiền bảo hiểm.
Theo quy định tại Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau: Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm) và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Đồng thời, Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết số 110 có hiệu lực.
Căn cứ các quy định nêu trên, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế.
Trường hợp lương tháng 12/2025 trả vào tháng 1/2026 thì kỳ tính thuế thu nhập cá nhân là tháng 1/2026 vì đây là thời điểm thực trả thu nhập.
Do đó, khoản tiền lương tháng 12/2025 nhưng chi trả vào tháng 1/2026 sẽ được áp dụng mức giảm trừ gia cảnh mới theo Nghị quyết số 110/2025 khi kê khai, tính nộp thuế TNCN.
Câu 2: Theo quy định mới, hành vi cầm cố, nhận cầm cố thẻ căn cước công dân sẽ bị phạt tới 10 triệu đồng.
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về căn cước, bảo đảm an ninh, trật tự và phòng ngừa các hành vi lợi dụng giấy tờ tùy thân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội và phòng, chống bạo lực gia đình.
Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, các hành vi vi phạm liên quan đến việc cấp, quản lý và sử dụng thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước và căn cước điện tử đều bị xử phạt nghiêm khắc, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Cụ thể, tại điểm b khoản 4 Điều 11, hành vi cầm cố hoặc nhận cầm cố thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy xác nhận số định danh cá nhân bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Quy định này áp dụng đối với cả người mang thẻ đi cầm cố và người nhận cầm cố.
Bên cạnh hình thức xử phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 11. Đồng thời, trong trường hợp có thu lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm, người vi phạm còn bị buộc nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp theo biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 6 Điều 11 của Nghị định.
Việc quy định mức xử phạt cao đối với hành vi cầm cố, nhận cầm cố thẻ căn cước công dân nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, đồng thời ngăn chặn tình trạng lợi dụng giấy tờ tùy thân của người khác để vay tiền, thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Ban Đào tạo.