I. Các thay đổi trọng yếu của Luật BHTG 2025
Với 08 chương, 41 điều, Luật BHTG 2025 đã tập trung vào 5 nhóm thay đổi chính, tạo nền tảng pháp lý linh hoạt và hiện đại hơn, cụ thể:
Thứ nhất, phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước, hạn mức chi trả linh hoạt và cơ chế bảo vệ đặc biệt. Một trong những thay đổi cốt lõi và mang tính đột phá của Luật BHTG 2025 là việc phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền quyết định một số quy định then chốt từ Thủ tướng Chính phủ sang Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Theo Luật BHTG 2025, Thống đốc có quyền quyết định hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong từng thời kỳ, đồng thời quy định mức phí BHTG cụ thể và lựa chọn áp dụng cơ chế tính phí đồng hạng hoặc phân biệt theo rủi ro, phù hợp với đặc thù hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) ở từng giai đoạn. Đặc biệt, trong trường hợp khẩn cấp, Thống đốc còn được phép quyết định hạn mức chi trả tối đa bằng toàn bộ (100%) khoản tiền gửi được bảo hiểm của khách hàng. Việc phân cấp này mang lại lợi ích thực tiễn rõ nét khi cho phép NHNN phản ứng nhanh chóng, kịp thời và sát với diễn biến thị trường.
Thứ hai, cơ chế chi trả sớm với ba “thời điểm kích hoạt” nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trước đây chỉ phát sinh khi TCTD đã rơi vào tình trạng phá sản hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác nhận mất khả năng chi trả. Theo Luật BHTG 2025, nghĩa vụ chi trả được kích hoạt tại ba thời điểm cụ thể, bao gồm: (i) phương án phá sản TCTD được phê duyệt hoặc NHNN xác nhận chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả; (ii) NHNN đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của TCTD đang bị kiểm soát đặc biệt khi lỗ lũy kế vượt 100% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính kiểm toán; (iii) NHNN thông báo chi trả để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự và an toàn xã hội. So với quy định cũ, cơ chế mới thể hiện rõ sự chuyển dịch từ tư duy “bồi hoàn sau đổ vỡ” sang “can thiệp chủ động và kịp thời”, phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh rủi ro hệ thống ngày càng gia tăng.
Thứ ba, mở rộng vai trò “công cụ giải quyết” của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV). Trước đây, vai trò của DIV khá hạn chế, chủ yếu thực hiện chi trả tiền gửi khi TCTD đã phá sản hoặc thanh lý tài sản. Tuy nhiên, Luật BHTG 2025 bổ sung quyền và nghĩa vụ tham gia xử lý TCTD yếu kém của DIV (khoản 14 Điều 14). Các can thiệp cụ thể được phép bao gồm: (i) cho vay đặc biệt (lãi suất có thể bằng 0%, có hoặc không tài sản bảo đảm (TSĐB)) đối với TCTD được can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt hoặc bị rút tiền hàng loạt; (ii) cử nhân sự giữ chức danh lãnh đạo chủ chốt tại Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) yếu kém; (iii) mua trái phiếu dài hạn của TCTD nhận chuyển giao bắt buộc; và (iv) tham gia đánh giá phương án cơ cấu lại và xử lý sự cố, khủng hoảng hệ thống theo quyết định của Chính phủ/NHNN. Ngoài ra, Luật đã dành riêng Chương VII (5 điều) để đưa ra quy định cụ thể về các hoạt động của DIV khi tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém hay xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Chương này cũng đưa ra quy định cơ chế hỗ trợ thanh khoản cho chính DIV: khi quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả, DIV được NHNN cho vay đặc biệt với lãi suất 0%, không yêu cầu TSĐB (Điều 38).
Thứ tư, thay đổi đối tượng và sản phẩm được bảo hiểm. Luật BHTG 2025 thay đổi theo hướng làm chặt chẽ hơn phạm vi đối tượng và sản phẩm được bảo hiểm, cụ thể Luật loại trừ tiền gửi của: (i) cá nhân sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính TCTD đó; (ii) cá nhân và người có liên quan của cá nhân đó mà tổng sở hữu vượt trên 5% vốn điều lệ của TCTD. Đồng thời, Luật cũng loại trừ hoàn toàn kỳ phiếu, tín phiếu phát hành sau ngày 01/7/2024 khỏi danh mục được bảo hiểm.
Thứ năm, tăng cường minh bạch và mở rộng danh mục đầu tư của DIV. Sau Luật BHTG 2025, các TCTD buộc phải công khai việc tham gia BHTG trên toàn bộ điểm giao dịch và kênh số, góp phần giảm bất cân xứng thông tin và củng cố niềm tin thị trường. Bên cạnh đó, DIV được mở rộng danh mục đầu tư (bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi tại ngân hàng có vốn nhà nước chi phối). Trước đó danh mục đầu tư của DIV bị giới hạn trong các tài sản an toàn, sinh lơi thấp như trái phiếu Chính phủ, hạn chế khả năng tích lũy nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, Luật cũng đồng thời thiết lập các nguyên tắc kiểm soát rủi ro và tăng cường giám sát tài chính của Bộ Tài chính (BTC). Nhờ đó, mô hình đầu tư mới của DIV phản ánh sự chuyển dịch theo hướng an toàn trong kiểm soát rủi ro, tiệm cận với thông lệ của các tổ chức BHTG hiện đại trên thế giới.
II. Một số tác động đến NHTM và QTDND
Tác động dự kiến của Luật BHTG 2025 đối với hệ thống ngân hàng và TCTD được nhìn nhận rõ nét qua ba kênh truyền dẫn chính như sau:
Thứ nhất, về thanh khoản và hành vi người gửi tiền, Luật BHTG 2025 với cơ chế chi trả sớm và kỳ vọng nâng hạn mức bảo hiểm sẽ củng cố niềm tin của người gửi tiền, giảm đáng kể nguy cơ đột biến rút tiền gửi khi xuất hiện thông tin tiêu cực, giúp ổn định thanh khoản của từng TCTD cũng như toàn hệ thống. Tuy nhiên, mặt trái là khả năng suy giảm kỷ luật thị trường: người gửi tiền, đặc biệt nhóm có khoản tiền gửi trung bình, có thể ít quan tâm hơn đến mức độ an toàn của ngân hàng mà mình gửi tiền. Vì vậy, cần tăng cường truyền thông chính sách, nhấn mạnh bảo hiểm tiền gửi vẫn có giới hạn, đồng thời kết hợp giám sát chặt chẽ từ NHNN để duy trì vai trò “giám sát tự nhiên” của thị trường.
Thứ hai, về chi phí vốn và chi phí tuân thủ, Luật BHTG 2025 mở ra khả năng áp dụng cơ chế phí BHTG linh hoạt (đồng hạng hoặc phân biệt theo rủi ro). Khi áp dụng phí phân biệt, các TCTD rủi ro cao sẽ chịu chi phí bảo hiểm cao hơn, tăng chi phí huy động vốn cận biên và buộc phải điều chỉnh cơ cấu tài sản - rủi ro theo hướng an toàn hơn. Ngay cả khi vẫn duy trì phí đồng hạng, Luật đặt ra yêu cầu cao hơn về chuẩn mực vận hành: các ngân hàng phải đầu tư làm sạch dữ liệu người gửi tiền, xây dựng hệ thống trích xuất danh sách chi trả nhanh và phối hợp dữ liệu thường xuyên với DIV. Những yêu cầu này làm gia tăng chi phí tuân thủ ngắn hạn nhưng nâng cao hiệu quả quản trị, giảm rủi ro vận hành và cải thiện chất lượng thông tin dài hạn.
Thứ ba, về mức độ chấp nhận rủi ro và ổn định hệ thống, Luật BHTG 2025 tạo tác động kép rõ nét. Về mặt tích cực, việc mở rộng vai trò của DIV giúp nâng cao khả năng xử lý TCTD yếu kém theo hướng có trật tự, kịp thời, giúp giảm thiểu chi phí xã hội từ đổ vỡ không kiểm soát, hạn chế rủi ro lan truyền và tăng cường sức chống chịu chung của ngành ngân hàng trước các cú sốc thanh khoản. Tuy nhiên, mặt trái là rủi ro đạo đức gia tăng: khi người gửi tiền được bảo vệ rộng hơn và DIV có khả năng hỗ trợ tài chính mạnh mẽ, một số TCTD có thể nới lỏng kỷ luật quản trị rủi ro, chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn vì kỳ vọng được “bảo lãnh ngầm”. Nếu không kiểm soát chặt chẽ, quỹ BHTG có nguy cơ lệch mục tiêu (chuyển từ chi trả bảo hiểm sang cứu trợ), dẫn đến gánh nặng tài khóa tiềm ẩn và suy yếu động lực tự điều chỉnh của thị trường.
III. Một số kiến nghị
Để Luật BHTG 2025 phát huy hiệu quả từ ngày 01/5/2026, cần các giải pháp đồng bộ sau:
Thứ nhất, đối với cơ quan quản lý nhà nước: cần khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý hướng dẫn thi hành Luật BHTG 2025, bao gồm việc ban hành đầy đủ các Nghị định và Thông tư hướng dẫn. Trong đó, NHNN nên chủ trì xây dựng bộ tiêu chí xếp hạng rủi ro làm cơ sở tính phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro, quy trình cho vay đặc biệt và chuẩn dữ liệu phục vụ chi trả nhanh; BTC phối hợp trong việc quy định cơ chế tài chính, hạch toán và giám sát hoạt động đầu tư của DIV. Đồng thời, cần công bố sớm lộ trình áp dụng hạn mức chi trả mới và các chuẩn mực kỹ thuật liên quan, nhằm tạo điều kiện cho các TCTD có đủ thời gian chuẩn bị và chuyển đổi hệ thống.
Thứ hai, DIV cần nâng cao năng lực thực thi thông qua tăng vốn điều lệ, đa dạng hóa danh mục đầu tư an toàn, số hóa 100% quy trình nghiệp vụ để đạt mục tiêu chi trả trong 15 ngày vào năm 2030, đồng thời đào tạo, xây dựng được đội ngũ chuyên gia quản trị ngân hàng khi cần thiết cử nhân sự giữ chức danh lãnh đạo chủ chốt của QTDND yếu kém.
Thứ ba, đối với các TCTD: cần chủ động thích ứng với các yêu cầu mới của Luật. Trước hết, các TCTD phải rà soát lại danh mục sản phẩm huy động, đặc biệt là các công cụ như kỳ phiếu, tín phiếu, để điều chỉnh theo hướng phù hợp với phạm vi BHTG và giảm phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn rủi ro cao. Việc công khai thông tin về tham gia BHTG trên các kênh số cũng cần được thực hiện đầy đủ, coi đây là một công cụ nâng cao uy tín và lợi thế cạnh tranh trong thu hút nguồn tiền gửi ổn định. Ngoài ra, các TCTD cần chủ động xây dựng kế hoạch tài chính, dự trù chi phí BHTG theo các kịch bản khác nhau (đồng hạng hoặc phân biệt theo rủi ro).
Ts.
Phạm Thị Hạnh, Ts. Nguyễn Tuấn Anh, Ths. Nguyễn Quang Hưng