27.12.2006 14:39

Tiếp tục cải cách Ngân hàng để hội nhập

Năm 2006, tình hình kinh tế – chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm tăng thêm khó khăn thách thức đối với nền kinh tế nước ta vốn đã bị thiệt hại rất lớn do thiên tai, lũ lụt, dịch cúm gia cầm, v.v...Tuy nhiên, với những nỗ lực không ngừng của Nhà nước và nhân dân cùng với sự hỗ trợ và hợp tác của bạn bè quốc tế, nước ta tiếp tục phát triển ổn định và có thể vượt các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đề ra. Đáng chú ý, năm 2006 được đánh dấu bởi hai sự kiện đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, đó là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và tổ chức thành công Hội nghị APEC. Hai sự kiện trọng đại này đã ghi nhận và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế và khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đến đầu tư an toàn, hiệu quả.

Đạt được những thành công nêu trên là kết quả phấn đấu chung của cả nước, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân hàng; hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Năm 2006, các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam đã hoạt động rất hiệu quả, nhất là trong việc huy động và phân bổ vốn cho phát triển kinh tế; các TCTD nước ngoài đã đóng vai trò cầu nối quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho các đối tác nước ngoài vào đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại.

Năm 2006 cũng ghi nhận những nỗ lực to lớn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với kết quả là Việt Nam đã chính thức là thành viên WTO và Chính phủ Mỹ đã chính thức thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam. NHNN đã xây dựng và trình Chính phủ ký Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006 phê duyệt Đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Đây là một đề án quan trọng, tạo điều kiện và là cơ sở nền tảng cho phát triển hệ thống Ngân hàng Việt Nam. NHNN cũng tích cực thực hiện cải cách hành chính và duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên với Nhóm Công tác ngân hàng nước ngoài nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

1. Những nỗ lực cải cách thời gian qua

* Về cải cách hệ thống ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ

Đã bắt đầu khởi động việc xây dựng NHNN thành NHTW hiện đại với nhiều nội dung quan trọng, bao gồm: xây dựng lại hai luật về ngân hàng; xây dựng mô hình tổ chức mới của NHTW; phát triển nguồn nhân lực; đổi mới hoạt động xây dựng và điều hành CSTT; cải cách thể chế thanh tra giám sát ngân hàng; v.v… Trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, trong đó coi trọng việc nâng cao khả năng thống kê, dự báo.

Hoạt động điều hành CSTT tiếp tục đạt được mục tiêu ổn định giá trị tiền tệ và kiểm soát lạm phát, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Đổi mới hoạt động điều hành CSTT đã được hoàn thiện, một số nội dung của Đề án đã bắt đầu được triển khai.

Hoạt động thanh tra giám sát của NHNN đã hướng theo 25 nguyên tắc Basle, làm cơ sở để xây dựng đề án đổi mới hoạt động thanh tra giám sát theo hướng một NHTW hiện đại. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra NHNN đã tăng lên đáng kể, nhất là về dịch vụ ngân hàng mới, quản trị rủi ro, phương pháp thanh tra giám sát dựa trên nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế.

* Về cải cách các NHTM

Tiến độ tái cơ cấu các NHTMNN đã được tăng cường thông qua các khoản hỗ trợ kỹ thuật song phương và đa phương, những dự án này đã góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho các NHTMNN và quan trọng hơn là đã đưa vào hệ thống NHTMNN những tập quán, chuẩn mực hiện đại về tổ chức, quản trị NHTM, chiến lược kinh doanh, kiểm toán báo cáo tài chính, góp phần tăng thêm tính minh bạch về tài chính của ngân hàng.

Các NHTMNN đã nghiên cứu, từng bước áp dụng các mô thức quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; triển khai hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; thành lập các bộ phận chuyên trách thực hiện chức năng quản lý rủi ro, quản lý tài sản Nợ – Có; hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống quản lý thông tin; phát triển các loại hình dịch vụ mới như ngân hàng bán lẻ, ngân hàng điện tử, dịch vụ tài chính phái sinh, dịch vụ quản lý quỹ đầu tư, v.v.

Tín dụng chính sách tiếp tục được tách khỏi tín dụng thương mại thông qua việc chuyển giao một số nhiệm vụ cho vay ưu đãi từ các NHTMNN sang Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội. Nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đang được thực hiện thí điểm tại một số NHTM như bao thanh toán, hoán đổi rủi ro tín dụng, hoán đổi lãi suất, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, trên Internet...

Việc cổ phần hóa các NHTMNN tiếp tục là một trọng tâm của ngành, những khó khăn trong quá trình cổ phần hóa hai NHTMNN đầu tiên của Việt Nam đã từng bước được tháo gỡ, những NHTMNN còn lại đã xây dựng đề án và lộ trình cổ phần hóa.

Các NHTMCP cũng tiếp tục được cơ cấu lại, 8 trong số 11 NHTMCP nông thôn đã được phép chuyển đổi mô hình kinh doanh thành NHTMCP đô thị. Về cơ bản, các NHTMCP có chất lượng hoạt động khá tốt, an toàn và hiệu quả, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu phù hợp với thông lệ quốc tế, một số NHTMCP đạt mức vốn điều lệ trên 1.000 tỉ đồng, có ngân hàng đạt trên 2.000 tỉ đồng.

* Đổi mới môi trường pháp lý

Nhằm đáp ứng đòi hỏi về quản lý đối với các hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng và có tính nghiệp vụ cao của một thị trường tài chính – tiền tệ trong tiến trình hội nhập, nhiều văn bản pháp lý đã được sửa đổi hoặc ban hành, điển hình là:

- Pháp lệnh Ngoại hối;

- Luật Công cụ chuyển nhượng;

- Nghị định 22/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện TCTD;

- Nghị định 141/2006/NĐ-CP về mức vốn pháp định của các TCTD (thay thế Nghị định 82/1998/NĐ-CP).

Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của các TCTD phi ngân hàng cũng dần được hoàn thiện, nhiều qui định cụ thể được ban hành liên quan đến việc đổi mới cơ chế quản lý, hoạt động và nghiệp vụ của các NHTM. NHNN đã xây dựng và ban hành các qui định pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

* Về hoạt động đối ngoại

Trong năm 2006, NHNN đã chủ động đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, tham gia các phiên đàm phán của Chính phủ, chuẩn bị tốt cho việc gia nhập WTO của Việt Nam vào tháng 11 vừa qua. Trong quan hệ với ASEAN và Châu á - Thái Bình Dương, NHNN đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác và đóng góp cho sự thành công của nhiều hội nghị cấp cao về tài chính ngân hàng, hoàn thành kế hoạch hành động quốc gia hàng năm trong lĩnh vực ngân hàng và phối hợp tích cực với Bộ Tài chính tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC tại Việt Nam năm 2006.

Nhiều hiệp định hợp tác song phương về lĩnh vực ngân hàng đã được ký kết với chính phủ, NHTW, các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật về tăng cường và đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đặc biệt, sự hỗ trợ của Quĩ ASEM ủy thác qua WB đã góp phần nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của NHNN và năng lực cạnh tranh của các NHTM. Với sự hỗ trợ của Quĩ ASEM, NHNN đã xây dựng một lộ trình phát triển ngành ngân hàng đến năm 2020. Lộ trình này được sắp xếp theo trình tự thời gian và mức độ ưu tiên, đồng thời được cập nhật thường xuyên theo tiến độ phát triển của ngành và là cơ sở để huy động và điều phối các nguồn lực, góp phần đẩy nhanh tiến độ cải cách hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

2. Nhiệm vụ từ nay đến năm 2020

Từ năm 2007, hệ thống Ngân hàng Việt Nam bắt đầu thực hiện Đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Nhằm triển khai đề án này, NHNN đã xây dựng danh mục và kế hoạch thời gian thực hiện các đề án, dự án, tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

2.1. Hoàn thiện môi trường pháp luật về ngân hàng

Trọng tâm trong lĩnh vực này là triển khai xây dựng 4 luật về ngân hàng, bao gồm: Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng. Trước hết, tập trung sửa đổi, xây dựng mới Luật NHNN và Luật các TCTD để có thể trình Quốc hội thông qua vào năm 2008.

Trong khi chưa ban hành các luật mới về ngân hàng, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của các TCTD, như: nghị định mới về tổ chức và hoạt động của NHTM, nghị định về hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, nghị định về thanh toán tiền mặt.

2.2. Từng bước đổi mới tổ chức, chức năng và hoạt động của các đơn vị trong hệ thống NHNN theo hướng xây dựng NHNN thành NHTW hiện đại

Từng bước sắp xếp lại và hình thành những đơn vị mới tại NHNN nhằm thực hiện có hiệu quả hơn vai trò của NHNN trung ương. Trong đó, qui mô, phạm vi hoạt động và cơ cấu tổ chức của các chi nhánh NHNN sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý tiền tệ – ngân hàng trên từng địa bàn.

2.3. Nâng cao năng lực xây dựng và điều hành CSTT

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách, chú trọng đến nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ điều hành gián tiếp khác, gắn điều hành tỉ giá hối đoái với điều hành lãi suất, điều hành nội tệ với điều hành ngoại tệ.

2.4. Tăng cường năng lực của NHNN về thanh tra giám sát

Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại và hữu hiệu (về thể chế, mô hình tổ chức, phương pháp giám sát và nguồn nhân lực) nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, thực hiện đúng các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng. Nghiên cứu thành lập cơ quan giám sát an toàn hoạt động ngân hàng thuộc NHNN trên cơ sở bộ máy Thanh tra NHNN hiện nay, từng bước tạo điều kiện để sau năm 2010 xây dựng cơ quan giám sát tài chính tổng hợp.

2.5. Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu các NHTM

Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời xây dựng đề án cổ phần hóa 3 NHTMNN còn lại để trình Thủ tướng thông qua, phấn đấu đến năm 2010 thực hiện cổ phần hóa tất cả các NHTMNN.

Tiếp tục xử lý nợ xấu phát sinh, nhanh chóng giảm tỉ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng xuống mức trung bình trong khu vực vào năm 2010, đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tiếp tục triển khai các mô hình tổ chức và mô thức quản trị hiện đại theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, phát triển hệ thống thông tin quản lý, tăng cường nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, nhất là các dịch vụ phi tín dụng.

2.6. Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế

Do những nỗ lực cải cách trên và việc chủ động đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, chúng ta đã tranh thủ được sự hỗ trợ của cộng đồng các nhà tài trợ, vận động và thu hút được nguồn vốn đáng kể cho công cuộc phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Trong năm 2006, NHNN đã chủ động triển khai thực hiện tốt các cam kết song phương và đa phương, đồng thời tích cực huy động trợ giúp cho quá trình cải cách và phát triển hệ thống ngân hàng. NHNN sẽ tiếp tục củng cố và phát triển các mối quan hệ để huy động các nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng; tích cực đàm phán và ký kết các dự án tín dụng với WB, ADB, IMF thông qua các đối thoại chính sách và hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy quá trình cải cách hệ thống ngân hàng, nhanh chóng hình thành một môi trường pháp lý thật sự bình đẳng cho mọi TCTD hoạt động tại Việt Nam.

Năm 2007 sẽ là một năm rất quan trọng đối với chúng ta, năm đầu tiên sau sự kiện gia nhập WTO, cũng là năm đầu tiên NHNN thực hiện Đề án phát triển Ngành Ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Với sự chỉ đạo của Chính phủ và lỗ lực cải cách của ngành Ngân hàng, hy vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục huy động và tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển trong thế chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc mà Đảng và Nhà nước giao phó.
Theo Ngân Hàng Nhà Nước

Các tin liên quan