09.11.2011 07:45

Thống đốc NHNN trả lời kiến nghị của cử tri tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII

Thực hiện yêu cầu của Ban Dân nguyện và của Văn phòng Chính phủ, vừa qua Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII, Ngân hàng Nhà nước xin đăng tải ý kiến trả lời của Thống đốc như sau:
I. CÁC KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ, NGOẠI HỐI:

1- Chính sách quản lý tỷ giá hối đoái thời gian qua còn nhiều điểm chưa hợp lý, đề nghị Chính phủ sớm có những giải pháp linh hoạt, phù hợp hơn (cử tri thành phố Hà Nội)
Tỷ giá hối đoái chịu tác động của nhiều yếu tố vĩ mô như cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, diễn biến lãi suất, kỳ vọng về lạm phát, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế, độ mở của nền kinh tế... Do nền kinh tế nước ta trong những năm qua liên tục ở tình trạng nhập siêu cao
, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, cung cầu ngoại tệ nhiều thời điểm bị mất cân đối, lạm phát luôn ở mức cao hơn so với các nước bạn hàng, tình trạng đô la hoá còn ở mức cao… nên việc ổn định tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường, đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường quản lý đối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng. Đến nay, thị trường ngoại hối đã có nhiều chuyển biến tích cực, tâm lý thị trường ổn định, thị trường ngoại tệ tự do được kiểm soát chặt chẽ và hầu như không có giao dịch, người dân và các doanh nghiệp đã tích cực bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng. Nhờ đó, tỷ giá USD/VND có xu hướng giảm, tỷ giá mua, bán USD/VND của các ngân hàng thương mại có nhiều thời điểm thấp hơn tỷ giá bình quân liên ngân hàng.
Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối phù hợp với diễn biến thị trường và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2-
Bên cạnh việc kiểm soát giá đồng Đô la Mỹ, đề nghị Ngân hàng Nhà nước đảm bảo việc các ngân hàng có đủ nguồn cung ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân (cử tri tỉnh Hải Phòng).
Nhờ quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp nên thị trường ngoại hối đã có nhiều diễn biến tích cực, người dân và doanh nghiệp đã tích cực bán ngoại tệ cho ngân hàng, hiện tượng găm, giữ ngoại tệ giảm dần, nhờ đó nguồn ngoại tệ của các ngân hàng thương mại đã được bổ sung đáng kể và nhiều tổ chức tín dụng sẵn sàng bán ngoại tệ đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng còn tăng cường mở thẻ thanh toán quốc tế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở nước ngoài của người dân.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương hoàn thiện để ban hành Thông tư quy định việc bán ngoại tệ tiền mặt của tổ chức tín dụng cho người cư trú là công dân Việt Nam để đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của người dân, gồm tiền ăn, đi lại, tiêu vặt liên quan đến các mục đích học tập, chữa bệnh, đi công tác, du lịch, viếng thăm ở nước ngoài.
3- Do khâu điều tiết cung cầu của Ngân hàng Nhà nước chưa hợp lý nên dẫn đến giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới. Đề nghị Nhà nước tăng lượng vàng nhập khẩu, giảm thuế nhập khẩu và tăng thuế xuất khẩu vàng để bình ổn giá vàng vật chất trong nước, góp phần bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu khác (cử tri tỉnh Trà Vinh).
Từ năm 2009, giá vàng thế giới tăng mạnh và biến động rất phức tạp, khó dự đoán, n
gười dân lo ngại giá vàng sẽ tiếp tục tăng cao nên có tâm lý mua vào để phòng ngừa rủi ro. Tâm lý của người dân cùng với yếu tố đầu cơ của một số tổ chức kinh doanh vàng (tạo sự khan hiếm giả tạo thông qua việc hạn chế bán ra) đã đẩy giá vàng trong nước tại một số thời điểm tăng nhanh hơn giá vàng thế giới.
 Để ổn định thị trường vàng, hạn chế tình trạng đầu cơ, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành đã triển khai nhiều giải pháp can thiệp mạnh. Nhờ đó, từ tháng 3/2011 đến nay, thị trường vàng trong nước đã được kiểm soát chặt chẽ, nhu cầu mua vàng trong nước giảm, giá vàng trong nước thường xuyên thấp hơn giá vàng thế giới khoảng 500-600 nghìn đồng/lượng.
4- Về chủ trương không cho phép kinh doanh vàng miếng và đề nghị xem xét nhu cầu tích trữ vàng miếng trong nhân dân (cử tri tỉnh Hải Phòng, Đồng Tháp).
Diễn biến phức tạp và khó lường của thị trường vàng trong nước trong năm 2009 và 2010 đã ảnh hưởng bất lợi đến tình hình kinh tế nước ta. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các bộ ngành triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, ngăn chặn các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.
II. CÁC KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG
:
1-
Đề nghị Chính phủ sớm có giải pháp để khắc phục tình trạng lãi suất ngân hàng quá cao như hiện nay (cử tri các tỉnh Lâm Đồng, Cao Bằng, Phú Thọ, Hải Dương và thành phố Hà Nội)
Trong những tháng đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, lạm phát có xu hướng tăng cao làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP trong đó xác định cần thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và chính sách tài khóa thắt chặt. Trong bối cảnh đó, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng còn ở mức khá cao.
Ngân hàng Nhà nước sẽ bám sát diễn biến tiền tệ để điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lãi suất cho vay ở mức hợp lý và giảm dần lãi suất khi lạm phát giảm và các cân đối vĩ mô có xu hướng ổn định.
2- Đề nghị Chính phủ tiếp tục có biện pháp hữu hiệu ổn định lãi suất thị trường và xử lý kiên quyết đối với những ngân hàng áp dụng lãi suất cao hơn quy định của Ngân hàng Nhà nước (cử tri các tỉnh Nghệ An, Khánh Hòa, Cao Bằng).
Trong những tháng đầu năm 2011, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi đồng bộ nhiều biện pháp ổn định thị trường tiền tệ như: Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng; chỉ đạo các ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng thương mại nhà nước tiết kiệm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất và tạo sự đồng thuận để tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các tỷ lệ an toàn và tốc độ tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng; tăng cường thanh tra, kiểm tra tính tuân thủ, chấp hành kỷ cương của các tổ chức tín dụng và xử lý nghiêm các vi phạm, trong đó có vi phạm quy định về trần lãi suất huy động.
Gần đây nhất, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản số 4605/NHNN-CSTT ngày 16/6/2011 yêu cầu các tổ chức tín dụng phải thực hiện đúng quy định về mức lãi suất huy động tối đa bằng đồng Việt Nam tại Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/3/2011 của Ngân hàng Nhà nước; chỉ đạo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm tổ chức tín dụng vi phạm bằng các hình thức như hạn chế phạm vi và địa bàn kinh doanh, tạm đình chỉ một số hoạt động ngân hàng, xử lý hành chính đối với tổ chức và cá nhân vi phạm…
3- Đề nghị Chính phủ xem xét, kiểm tra lại các Ngân hàng thực hiện việc thu tiền thế chấp tài sản, thu tiền bảo hiểm tiền vay vốn… trong khi lãi suất cho vay tại các ngân hàng khá cao, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của nhân dân (cử tri các tỉnh Tây Ninh).
Ngày 10/3/2011, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số  05/2011/TT-NHNN quy định về thu phí cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó, tổ chức tín dụng chỉ được thu 3 loại phí liên quan đến khoản cho vay đối với khách hàng, gồm: phí trả trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn và phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; phí thu xếp để thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng tài trợ theo phương thức cho vay hợp vốn giữa các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn với khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về cho vay đồng tài trợ của tổ chức tín dụng; Các loại phí được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cho vay.
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra và giám sát việc chấp hành quy định về thu phí cho vay của các tổ chức tín dụng. Kết quả kiểm tra, thanh tra, giám sát cho thấy về cơ bản các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm túc, tuy nhiên, cũng còn một số tổ chức tín dụng, chi nhánh tổ chức tín dụng thu phí cho vay sai quy định. Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời chấn chỉnh, xử phạt và yêu cầu các tổ chức tín dụng này hoàn trả cho khách hàng các khoản phí đã thu sai quy định.
Nếu phát hiện các tổ chức tín dụng thu phí cho vay sai quy định, đề nghị cử tri phản ánh cụ thể về đường dây nóng của Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
4-
Đề nghị Nhà nước tiếp tục có các chính sách ưu đãi vay vốn ngân hàng cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói riêng (cử tri tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Phòng)
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, cụm công nghiệp. Nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, trong đó có chính sách về vay vốn ngân hàng, đã được ban hành như: Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ cũng đã chỉ đạo tập trung  ưu tiên vốn tín dụng cho sản xuất – kinh doanh, khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư  số 04/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 hướng dẫn chi tiết chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, các chủ trang trại, hợp tác xã được vay không có tài sản đảm bảo tối đa đến 500 triệu đồng phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, để khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay phục vụ nông nghiệp, nông thôn, ngày 29/9/2010, NHNN đã ban hành Thông tư 20/2010/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng: (1) Áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức thấp đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cao (bằng 1/5 tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường đối với tiền gửi Việt Nam đồng nếu tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tổng dư nợ từ 40-70% và bằng 1/20 đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ trên 70%); (2) Dành lượng tiền cung ứng để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với sự ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay; (3) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác trên cơ sở mục tiêu, điều kiện phát triển nền kinh tế và yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế, nông nghiệp, nông thôn.
5- Hiện nay, việc thực hiện chính sách của Nhà nước về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn chủ yếu thuộc trách nhiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đề nghị Nhà nước đa dạng hóa hơn nữa các kênh cho vay vốn (cử tri tỉnh Hải Phòng).
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì các tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm: Các tổ chức tín dụng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; các tổ chức tài chính quy mô nhỏ; các ngân hàng, tổ chức tài chính được Chính phủ thành lập để thực hiện việc cho vay theo chính sách của Nhà nước (Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển).
Như vậy, tất cả các tổ chức tín dụng đều được thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đóng vai trò quan trọng nhất.
6- Đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét cơ chế khoanh, giãn nợ đối với những hộ sản xuất nuôi trồng thủy sản gặp rủi ro thiệt hại và tiếp tục cho vay để tái sản xuất, tiếp tục quan tâm đầu tư vốn đối với ngư dân có phương tiện đánh bắt xa bờ (cử tri tỉnh Bạc Liêu).
Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định: khi khách hàng gặp khó khăn về tài chính, không trả được nợ gốc/lãi đúng hạn thì tổ chức tín dụng được quyền xem xét, quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi tiền vay.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 10, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Điều 6 Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, khi khách hàng chưa trả được nợ đúng hạn cho tổ chức tín dụng do nguyên nhân khách quan (thiên tai, bệnh dịch…) thì tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng theo quy định hiện hành, đồng thời căn cứ dự án, phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, có khả năng trả được nợ của khách hàng để xem xét cho vay mới mà không phụ thuộc vào dư nợ cũ của khách hàng chưa trả được đúng hạn.
Vì vậy, hộ sản xuất nuôi trồng thủy sản, ngư dân đánh bắt xa bờ có nhu cầu vay vốn hoặc khó khăn về tài chính chưa trả được nợ cho khoản vay đến hạn, cần liên hệ trực tiếp với các tổ chức tín dụng để được xem xét cho vay mới hoặc cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo cơ chế tín dụng hiện hành.
7-
Đề nghị nhà nước có cơ chế cho vay ưu đãi với mức lãi suất thấp hoặc bằng 0% đối với cán bộ hiện đang sinh sống tại các huyện vùng cao, miền núi không đủ khả năng mua đất, vật liệu làm nhà để họ yên tâm công tác lâu dài (cử tri tỉnh Hà Giang)
Hiện nay, Nhà nước có chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 và chính sách nhà ở thu nhập thấp tại đô thị theo Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009.
Việc giải quyết cho cán bộ làm việc, sinh sống tại các huyện vùng cao, miền núi được hưởng cơ chế vay ưu đãi để mua đất, vật liệu làm nhà ở phụ thuộc vào khả năng cân đối của ngân sách nhà nước, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các Bộ, ngành, địa phương, đồng thời phải phù hợp với các chính sách kinh tế- xã hội khác trên địa bàn.
8-
Đề nghị Nhà nước có chính sách cho vay vốn với lãi suất thấp hơn đối với gia đình chính sách, người có công (cử tri tỉnh Lạng Sơn)
Gia đình chính sách được vay vốn theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội đang thực hiện cho vay 18 chương trình tín dụng chính sách với lãi suất vay vốn ưu đãi từ 0% đến 0,9%/tháng tùy theo đối tượng vay, mục đích sử dụng vốn vay. Vì vậy, các đối tượng chính sách cần liên hệ với chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn để biết thông tin cụ thể và thụ hưởng chính sách tín dụng ưu đãi theo quy định.

9- Đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội mở rộng đối tượng cho vay chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên; tiếp tục cho đối tượng thứ ba vay đến khi ra trường vì hiện nay đối tượng gia đình có khó khăn định xuất chỉ được vay một năm (cử tri các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp).
Sau gần 4 năm triển khai, thực hiện, Chương trình Tín dụng đối với học sinh, sinh viên theo Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, Chương trình cũng xuất hiện một số
tồn tại, hạn chế, như: một số cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương chưa xác định rõ trách nhiệm của mình trong quy trình vay vốn, chưa làm tốt trách nhiệm trong việc xác nhận, lựa chọn đúng đối tượng thụ hưởng Chương trình; một số trường, cơ sở dạy nghề chưa thực hiện tốt công tác trao đổi thông tin, thống kê số lượng học sinh, sinh viên được vay vốn và việc thực hiện cam kết trả nợ; một bộ phận học sinh, sinh viên chưa hiểu hết ý nghĩa của việc sử dụng vốn vay và trách nhiệm hoàn trả cùng gia đình.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Thông báo 231/TB-VPCP ngày 31/8/2010, Chương trình cho vay học sinh, sinh viên đã có một số điều chỉnh cho phù hợp. Sự điều chỉnh này không làm thay đổi đối tượng vay vốn của Chương trình mà chỉ thay đổi thời gian cho vay đối với đối tượng học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính nêu tại Khoản 3, Điều 2, Quyết định 157/2007/QĐ-TTg (chỉ cho vay một lần với thời gian học được vay vốn tối đa không quá 12 tháng). Việc điều chỉnh này nhằm đảm bảo đối tượng được vay chính xác hơn, tránh trường hợp hộ vay vốn không còn khó khăn nhưng vẫn thụ hưởng chính sách tín dụng này. Trường hợp sau khi hết thời hạn vay, hộ gia đình vẫn tiếp tục khó khăn đột xuất do thiên tai, bệnh dịch, tai nạn… được Ủy ban nhân dân tỉnh xác nhận thì
sẽ tiếp tục được nhận tiền vay 12 tháng tiếp theo.
III. KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM:
Đề nghị ngành Ngân hàng sớm có biện pháp khắc phục tình trạng tiền kim loại có chất lượng kém và khó sử dụng trong lưu thông như hiện nay. Đồng thời, tăng cường hơn nữa biện pháp phòng và chống tiền giả, phải xử lý thật nghiêm khắc ở mức hình phạt cao nhất đối với các hành vi sản xuất, phân phối, sử dụng tiền giả (cử tri tỉnh Tiền Giang).
- Về chất lượng tiền kim loại: Những hạn chế của tiền kim loại trong lưu thông đã được Ngân hàng Nhà nước báo cáo và nhận trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Viện hoá học, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam và các cơ quan liên quan tiến hành đánh giá, nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng của đồng tiền kim loại. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận các giải pháp về lưu thông tiền kim loại như sau: Chưa phát hành thêm tiền kim loại; tổ chức tốt việc cất giữ, bảo quản tiền kim loại trong kho, đồng thời duy trì tiền kim loại trong lưu thông ở những địa phương có điều kiện (thành phố Hồ Chí Minh); đối với địa bàn gặp khó khăn trong việc lưu thông tiền kim loại thì không ép buộc người dân sử dụng tiền kim loại.
- Về tăng cường biện pháp phòng, chống tiền giả:
Những năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các cơ quan truyền thông, báo chí tăng cường thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tiền giả, bảo vệ tiền Việt Nam. Riêng trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã in và phát hành rộng rãi trên phạm vi cả nước 1 triệu cuốn tài liệu, 100.000 tờ áp phích “tiền Việt Nam và cách nhận biết” để người dân nắm được các quy định của pháp luật về bảo vệ tiền Việt Nam, các cách kiểm tra, nhận biết tiền thật cũng như thủ đoạn tiêu thụ tiền giả của bọn tội phạm. Nội dung tài liệu cũng được đăng trên Website Ngân hàng Nhà nước,  Đài truyền hình, Đài truyền thanh và một số phương tiện thông tin đại chúng khác.
Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm nâng cao khả năng chống làm giả đồng tiền của Việt Nam; triển khai thực hiện “Dự án Nâng cao hiệu quả, biện pháp ngăn chặn tiền giả lưu hành” trong hệ thống Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, bộ đội biên phòng, hải quan trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm làm tiền giả, vận chuyển, tàng trữ, lưu hành, mua, bán tiền giả. Theo quy định tại Điều 180 Bộ Luật hình sự, khung hình phạt đối với các hành vi phạm tội này như sau: bị phạt tù từ 3 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

NHNN

Các tin liên quan