15.07.2006 22:45

Tham luận tại hội nghị sơ kết thí điểm thành lập Quỹ an toàn hệ thống tại Thái Bình

Hà Nội ngày 21 tháng 06 năm 2006

Ngay từ khi triển khai thí điểm thành lập QTDND, các QTDCS và QTD Khu vực lúc đó đã thấy rõ sự cần thiết phải có một loại vốn đặc biệt ứng cứu tức thì cho các QTDCS khi gặp khó khăn trong chi trả. Với mục đích này, nguồn vốn trên sẽ cải thiện được năng lực thanh toán chi trả, đưa các QTDCS thoát khỏi bờ vực phá sản. Tại Kiên Giang và Thái Bình, các QTDCS trích một khoản tiền nhất định trên số dư tiền gửi bình quân tại mỗi QTDCS và giao cho QTD Khu vực quản lý để lập quỹ an toàn tiền gửi. Mặc dù còn nhiều hạn chế về quy chế sử dụng, xử lý rủi ro,... nhưng Quỹ an toàn tiền gửi trong giai đoạn sơ khai đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ khẩn cấp nhu cầu thanh khoản cho một số QTDCS trên địa bàn rơi vào tình trạng lâm nguy, từ đó giúp những QTDCS này vượt qua giai đoạn khó khăn để tự khắc phục những yếu kém và trở lại hoạt động bình thường. Điều quan trọng của việc làm trên vừa tránh được sự đổ vỡ của 1 QTDCS vừa tránh được nguy cơ lan truyền ảnh hưởng xấu đến nhiều QTDCS khác .

Sau khi nhận bàn giao sáp nhập các QTD Khu vực thành Chi nhánh QTDTW, với trách nhiệm là tổ chức đầu mối của hệ thống, QTDTW đã vận dụng mọi nguồn vốn có thể để đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của các QTDCS. Công tác điều hoà vốn thông thoáng đã thực sự tạo ra luồng di chuyển vốn hợp lý giữa các QTDCS tạm thời thừa vốn tới các QTDCS thiếu vốn. Qua đó, củng cố mối liên kết giữa QTDTW và QTDCS, thúc đẩy sự phát triển bền vững toàn hệ thống. Tuy nhiên, với đặc thù riêng của việc cho vay hỗ trợ thiếu hụt tạm thời về chi trả tiền gửi, nên nhiều lúc QTDTW đã phải đứng trước mâu thuẫn:

- Nếu tập trung quá nhiều vốn cho vay hỗ trợ thiếu hụt tạm thời về chi trả tiền gửi để ứng cứu các QTDCS khó khăn thì bản thân QTDTW phải đứng trước khả năng rủi ro rất cao, đồng thời sẽ hạn chế nguồn vốn cho vay mở rộng tín dụng để đáp ứng nhu cầu cho các QTDCS khác và năng lực tài chính của QTDTW cũng bị ảnh hưởng.

- Nếu không chú trọng cho vay hỗ trợ chi trả tiền gửi thì các QTDCS sẽ bị thiếu hụt vốn khả dụng, không chi trả tiền gửi kịp thời sẽ dẫn đến dư âm xấu, khách hàng rút tiền gửi hàng loạt dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát của QTDCS và lan truyền đến nhiều QTDCS khác.

Trước tình hình trên cùng với sự quan tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình, QTDTW và Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thái Bình đã triển khai vận động các QTDCS, phân tích lợi ích to lớn khi thành lập Quỹ an toàn hệ thống để các QTDCS cùng chia sẻ và cùng thể hiện trách nhiệm với sự phát triển của hệ thống. Do vậy, đã tạo sự đồng thuận rất cao trong quá trình thí điểm thành lập Quỹ an toàn hệ thống tại Thái Bình, bước đầu mang lại niềm tin tưởng và sự an tâm chung cho tất cả các QTDCS hoạt động trên địa bàn.

Sau gần 2 năm triển khai đề án thí điểm thành lập Quỹ an toàn hệ thống tại Thái Bình (08/10/2004), đến nay Quỹ an toàn hệ thống đã góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động của các QTDCS tỉnh Thái Bình. Những khó khăn về thanh khoản và tài chính của một số QTDCS đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ thiết thực của hệ thống, thể hiện tính liên kết ngày càng chặt chẽ hơn đưa sản phẩm dịch vụ của QTDND phục vụ ngày một tốt hơn cho nông nghiệp nông thôn trên địa bàn.

Quá trình thí điểm triển khai Quỹ an toàn hệ thống là quá trình phối hợp chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương và sự đồng thuận cao của các QTDCS, các bước tiến hành đều có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Chính vì vậy, từ khi xây dựng đề án Quỹ an toàn hệ thống cho đến khi triển khai đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí.

Theo chúng tôi, bài học rút ra từ khi xây dựng đến khi triển khai vận hành Quỹ an toàn hệ thống tại Thái Bình là:

Thứ nhất: Cần có chính sách đúng, đi vào cuộc sống phù hợp với thực tế hoạt động của QTDND thì mới tạo được sự đồng thuận của các QTDCS.

Thứ hai: Sự quan tâm chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình cùng với sự phối hợp giữa Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thái Bình và QTDTW, QTDCS là động lực cơ bản thúc đẩy sự ra đời của Quỹ an toàn hệ thống.

Thứ ba: Nhận thức sâu sắc lợi ích, tầm quan trọng của Quỹ an toàn hệ thống, QTDTW luôn quán triệt Chi nhánh QTDTW chủ động tích cực phối hợp cùng với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, các QTDCS. Xây dựng quy chế trích lập và sử dụng, quy định tạm thời về hạch toán kế toán, quy chế hoạt động của Ban Quản lý Quỹ an toàn hệ thống. Chính vì vậy, ngay sau các QTDCS thông qua quy chế và được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y, Quỹ an toàn hệ thống đã được vận hành một cách thông suốt.

Thứ tư: Khi Quỹ an toàn hệ thống đã phát huy tác dụng, thì lợi ích của tất cả các QTDCS thuộc tỉnh Thái Bình, lợi ích của từng QTDCS được đảm bảo : Các QTDND đều được tư vấn về chuyên môn nghiệp vụ ; các QTDCS yếu kém hỗ trợ tài chính kịp thời nên hạn chế tối đa nguy cơ bị thu hồi giấy phép hoạt động, đồng thời sớm ngăn chặn những dư âm xấu có thể lan truyền đến các QTDCS khác ; bản thân các QTDCS thể hiện được trách nhiệm tương trợ cộng đồng, cùng đoàn kết giúp các QTDCS yếu kém khắc phục tồn tại và phát triển đi lên.

Xét về các khía cạnh lợi ích mang lại từ hoạt động của Quỹ an toàn hệ thống qua thời gian triển khai thí điểm tại Thái Bình, chúng tôi đã nhận thấy như sau :

Về lợi ích kinh tế :

- Đối với các QTDCS được nhận vốn từ Quỹ an toàn hệ thống.

Tuy nguồn vốn huy động ban đầu còn khiêm tốn nhưng đã góp phần rất quan trọng trong việc ổn định tình hình, hỗ trợ về nguồn lực tài chính tạo đà cho các QTDCS có điều kiện khắc phục vươn lên để trở lại hoạt động bình thường. Đây là tác dụng to lớn và thiết thực nhất mà Quỹ an toàn hệ thống mang lại.

Quỹ an toàn hệ thống của Thái Bình đã hỗ trợ kịp thời cho 4 QTDND : Nam Hải, Vũ Thắng, Duyên Hải, Song Lãng thuộc tỉnh Thái Bình ( hỗ trợ 1 QTDCS về bảo đảm khả năng chi trả, hỗ trợ 3 QTDCS khó khăn về tài chính. Những đơn vị được hỗ trợ đều lâm vào tình trạng lâm nguy, nếu không được sự trợ giúp của Quỹ an toàn hệ thống, không được sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền địa phương và sự ủng hộ của QTDTW, thì có QTDCS sẽ rơi vào khả năng bị rút giấy phép hoạt động. Đến nay, các QTDCS trên đã dần khắc phục được khó khăn và đang trên con đường trở lại hoạt động bình thường và có đà phát triển tốt.

- Đối với các QTDCS góp vốn.

Vốn góp vào Quỹ an toàn hệ thống có thể ảnh hưởng một phần nhỏ, làm giảm lợi nhuận của các QTDCS nhưng lại mang đến sự ổn định và phát triển chung cho toàn hệ thống. Việc giúp đỡ một QTDCS tránh khỏi nguy cơ đổ bể không những thể hiện tính tương trợ cộng đồng, tính liên kết giữa các thành viên của hệ thống mà còn tránh được nguy cơ cho chính mình khi một QTDCS bị đổ vỡ sẽ lập tức bị ảnh hưởng xấu lan truyền đến hoạt động của nhiều QTDCS khác. Đó là bài học đã được rút ra từ thực tiễn hoạt động của QTDND trong quá trình chấn chính củng cố vừa qua.

Về lợi ích xã hội.

Xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp nông thôn. Xây dựng một xã hội dân chủ công bằng văn minh là mục tiêu chính của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện mục tiêu trên cần rất nhiều giải pháp tổng thể, đồng bộ. Trong đó, vốn cho sản xuất kinh doanh là tiền đề quan trọng. Cùng với các ngân hàng thương mại, hệ thống QTDND là một kênh dẫn vốn không chỉ giữa các thành viên QTDND mà còn trong cộng đồng dân cư ở địa bàn nông thôn. Sau 13 năm hình thành và phát triển mô hình QTDND đến nay, các QTDND đã chủ động huy động khai thác nguồn vốn tại chỗ, đáp ứng được một phần nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống cho nhân dân trên địa bàn, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm công ăn việc làm, phát triển ngành nghề truyền thống và hạn chế cho vay nặng lãi ở vùng nông thôn.

Tuy nhiên, nếu đứng riêng lẻ, thì bản thân từng QTDCS sẽ luôn phải đối mặt với tiềm ẩn rủi ro cao, thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ đổ vỡ QTDCS và ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội. Theo mô hình QTDND kiểu mới, các QTDCS được gắn kết nhau trong cùng hệ thống, hình thành sự liên kết chặt chẽ giữa QTDTW và các QTDCS, nhằm bảo đảm những điều kiện an toàn trong hoạt động và hỗ trợ nhau về nguồn vốn và nghiệp vụ chuyên môn trong quá trình phát triển. Sự ra đời Quỹ an toàn hệ thống sẽ giúp các QTDND có được sự liên kết chặt chẽ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, ổn định hơn, củng cố được lòng tin cho người gửi, khơi tăng nguồn vốn tại chỗ mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho sự phát triển chung ở nông thôn.

Ngoài lĩnh vực Quỹ an toàn hệ thống, chúng tôi xin đề cập thêm một lĩnh vực nữa có liên qua đến việc bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống QTDND, đó chính là việc thiết lập và vận hành nguồn dự phòng chỉ trả tiền gửi trong hệ thống QTDND.

Do quy mô hoạt động còn nhỏ bé, trong thời gian đầu Ngân hàng Nhà nước chưa bắt buộc các QTDCS phải duy trì dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước . Chính sách này tạo thuận lợi cho các QTDCS trong việc sử dụng nguồn vốn huy động tại chỗ có hiệu quả. Tuy vậy, trên thực tế cũng có nhiều QTDCS sử dụng tối đã nguồn vốn huy động để cho vay mà chưa thực sự quan tâm đến việc phải dự trữ một lượng vốn khả dụng để đảm bảo hoạt động bình thường trong chi trả tiền gửi. Thực trạng này đưa các QTDCS luôn phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt khả năng chi trả, nếu không có sự chị đạo sát của Ngân hàng Nhà nước, sự hỗ trợ kịp thời từ QTDTW thì hậu quả khó lường.

Tuy nhiên, với việc phải thường xuyên gồng mình để đáp ứng các nhu cầu vay hỗ trợ chi trả từ các QTDCS, trong khi QTDTW vẫn phải bảo đảm khả năng chỉ trả của chính mình và đáp ứng các nhu cầu mở rộng tín dụng các QTDCS đang là một vấn đề hết sức bức xúc. Có những thời điểm, QTDTW phải có chỉ đạo đối với các chi nhánh QTDTW tạm dừng các khoản cho vay ngoài hệ thống, hạn chế cho vay mở rộng tín dụng đối với QTDCS để tập trung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay hỗ trợ chi trả tiền gửi nhằm bảo đảm sự thông suốt và ổn định trong hoạt động của QTDCS. Hiện trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến khả năng tài chính của QTDTW, sẽ ảnh hưởng đến sự hỗ trợ đến các Quỹ tín dụng cơ sở.

Do vậy, cùng với việc triển khai Quỹ an toàn hệ thống, sự cần thiết để đảm bảo một thiết chế an toàn đầy đủ cho hệ htống QTDND là cần hình thành và triển khai nguồn dự phòng chỉ trả tiền gửi, trên cơ sở sự đóng góp về nguồn vốn của QTDTW và các QTDCS tạo lập nguồn vốn dự phòng lớn mạnh của cả hệ thống.

Nếu như Quỹ an toàn hệ thống hỗ trợ chi trả tiền gửi cho các QTDCS yếu kém xếp loại D theo bằng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước và các QTDCS đang bị kiểm soát đặc biệt có nguy cơ mất khả năng chỉ trả ; cho vay hỗ trợ các QTDCS có nguy cơ mất khả năng thanh toán ; cho vay các QTDCS khó khăn tạm thời về tài chính (theo Quy chế tạm thời về trích lập, quản lý, sử dụng Quỹ an toàn hệ thống QTDND đang thí điểm triển khai ở Thái bình) thì nguồn dự phòng chi trả tiền gửi sẽ cho vay hỗ trợ thiếu hụt tạm thời về chi trả tiền gửi đối với các QTDCS đang hoạt động bình thường. Mỗi loại có tác dụng xử lý khác nhau từ thấp lên cao, hỗ trợ một cách phù hợp đối với mỗi loại QTDCS như bác sỹ chữa bệnh giúp cho các QTDCS có điều kiện khắc phục và phát triển lành mạnh

II. Trên cơ sở những kết quả đạt được, để Quỹ an toàn hệ thống phát huy hiệu quả và áp dụng trên cả nước, QTDTW xin kiến nghị như sau:

1/ Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm tổng kết thí điểm thành lập Quỹ an toàn hệ thống và cho phép triển khai áp dụng mô hình Quỹ an toàn hệ thống QTDND trên toàn quốc.

2/ Việc triển khai thành lập Quỹ an toàn hệ thống không chỉ là một bước ngăn chặn rủi ro cho từng QTDCS mà còn là những điều kiện góp phần bảo đảm an toàn cho cả hệ thống QTDND, giúp cho các QTDND hoạt động an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững. Như vậy nguy cơ đổ vỡ dẫn đến việc bị rút giấy phép hoạt động phải nhờ đến sự hỗ trợ của bảo hiểm tiền gửi đã giảm đi. Vì vậy, chúng tôi xin kiến nghị Ngân hàng Nhà nước trình Chính phủ xem xét lại tỷ lệ nộp phí bảo hiểm tiền gửi theo hướng : giảm phí bảo hiểm tiền gửi hiện đang phải nộp 0,15%/năm/số dư tiền gửi bình quân năm xuống còn 0,07%/năm/số dư tiền gửi bình quân năm, để các QTDND có điều kiện đóng góp quỹ an toàn hệ thống là 0,08%/năm/số dư nợ hữu hiệu bình quân năm .

2/ Đề nghị Bảo hiểm Tiền gửi có cơ chế cho vay hỗ trợ các Quỹ Tín dụng với các điều kiện phù hợp với tính chất và hoạt động của hệ thống QTDND. Những quy định trong Quyết định số 199/QĐ/BHTG11 ngày 23/7/2005 của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa phù hợp với đặc thù vay vốn của các QTDCS khi gặp khó khăn trong chi trả tiền gửi cũng như khó khăn về tài chính. Chính vì vậy, hiện nay các QTDCS rất khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay từ Bảo hiểm Tiền gửi.

4/ Đề nghị UBND Tỉnh Thái Bình, Ngân hàng Nhà nước có chính sách hỗ trợ dưới hình thức cho vay một khoản vốn (không lãi suất hoặc lãi suất nhẹ) đối với Quỹ an toàn hệ thống trong một thời gian dài để làm cơ sở cho phát triển quy mô nguồn vốn.

5/ Cho phép hình thành và triển khai nguồn dự phòng chỉ trả tiền gửi của hệ thống QTDND nhằm huy động được sức mạnh của cả hệ thống và triển khai các hoạt động hỗ trợ một cách kịp thời đến các QTDCS gặp khó khăn.

Việc hình thành Quỹ an toàn hệ thống và nguồn dự phòng chi trả sẽ giúp hoàn thiện thiết chế về bảo đảm an toàn cho các QTDND, với những cấp độ hỗ trợ từ thấp lên cao sẽ góp phần ngăn ngừa ngay từ đầu những rủi ro và nguy cơ xấu có thể xẩy ra, từ đó mối liên hệ tương trợ cộng đồng và liên kết hệ thống rõ nét hơn, tích cực hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống QTDND phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững.

Quỹ tín dụng nhân dân trung ương

Các tin liên quan