22.01.2007 09:47

Hạn chế ngân hàng cho vay đầu tư CK: Đề phòng đổ vỡ!

Ngày 19/1, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định cấm các tổ chức tín dụng cho công ty chứng khoán trực thuộc vay vốn để kinh doanh chứng khoán, nhằm tránh nguy cơ đổ vỡ cũng như tạo sự bình đẳng trong đầu tư chứng khoán.
Hầu hết các ngân hàng đều hỗ trợ vốn cho các Cty chứng khoán trực thuộc, có những ngân hàng quốc doanh cho vay đến 2.000-3.000 tỷ đồng. Vì thế, việc tách bạch hoạt động kinh doanh giữa ngân hàng với Cty chứng khoán trực thuộc là cần thiết để tạo sự bình đẳng trong đầu tư chứng khoán.

 
Thị trường chứng khoán liên tục tăng trưởng nóng trong thời gian gần đây.

Theo giới phân tích, việc hạn chế ngân hàng đổ vốn vào chứng khoán đang tăng trưởng quá “nóng” là để tránh nguy cơ đổ vỡ như đã từng xảy ra với đầu cơ bất động sản.

Mặt khác, quyết định này cũng nhằm tạo sự bình đẳng trong đầu tư chứng khoán, khi mà hiện nay, nhiều công ty chứng khoán của các ngân hàng thương mại đang hưởng những đặc quyền từ ngân hàng mẹ.

Cho vay: Chỉ 1.500 - 1.600 tỷ đồng?

Cho vay cầm cố chứng khoán hiện đang mở rộng và chiếm một tỷ trọng lớn trong dư nợ của nhiều ngân hàng thương mại. Trong khi các ngân hàng lớn đều thành lập Cty chứng khoán, thì các ngân hàng nhỏ hơn đều có sản phẩm cho vay cầm cố chứng khoán.

Theo một số nguồn tin, hiện dư nợ cho vay cầm cố chứng khoán ở một số ngân hàng đang chiếm một tỷ trọng khá lớn, từ 10-15%, cá biệt lên tới 24% tổng dư nợ.

Tuy nhiên, theo Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, mức độ cho vay cầm cố chứng khoán của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện còn ở rất thấp. “Con số mà chúng tôi nắm được là khoảng 2% tổng nợ tín dụng trong nền kinh tế (khoảng 1.500 - 1.600 tỷ đồng). Đó là mức mà nếu có ảnh hưởng gì cũng không phải là đã gây hệ quả lớn”- Ông Thúy nói.

Tuy vậy, việc các nhà băng đua nhau đổ tiền vào chứng khoán thời gian qua được đánh giá là một tác nhân khiến thị trường tăng trưởng nóng và tiềm ẩn rủi ro cho chính ngân hàng.

Thống đốc Lê Đức Thúy cũng thừa nhận  cho vay để đầu tư chứng khoán có mức độ rủi ro cao, vì thị trường biến động khó lường, nhiều khi chỉ một tin đồn thôi cũng có thể làm giá cả đảo chiều. Vì thế, NHNN luôn yêu cầu các ngân hàng thương mại phải rất thận trọng trong hoạt động cho vay này.

Trên thực tế, hiện rất nhiều nhà đầu tư đang dùng hạn mức tín dụng lên đến hơn 50% vốn vay để mua cổ phiếu. Trong khi đó, đa phần những người mua chứng khoán là theo kiểu phong trào, dựa vào động thái của thị trường để đầu tư. Nếu có vấn đề xảy ra thì nguy cơ đổ vỡ là rất lớn.

Ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược NHNN, cho rằng: “Hoạt động của thị trường tiền tệ bây giờ cũng liên quan đến thị trường chứng khoán, và điều này buộc Nhà nước phải quan tâm hơn đến chứng khoán. Bất kỳ một sự trục trặc nào của thị trường chứng khoán cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiền tệ”.

Công bằng và tránh đổ vỡ

 
Các ngân hàng bị cấm cho Cty chứng khoán vay vốn để kinh doanh chứng khoán.
Một trong những động thái mới nhất hạn chế đổ vốn vào chứng khoán là quyết định cấm các tổ chức tín dụng cho Cty chứng khoán trực thuộc vay vốn để kinh doanh chứng khoán.

Với những Cty chứng khoán mà ngân hàng góp vốn và nắm quyền kiểm soát, tổng mức cho vay và bảo lãnh không được vượt quá 10% vốn tự có; với các Cty chứng khoán khác mức cho vay và bảo lãnh không được vượt quá 20%. Các khoản cho vay để đầu tư vào chứng khoán bị liệt vào nhóm tài sản có hệ số rủi ro 150%.

Hiện nay, nhiều Cty chứng khoán của các ngân hàng thương mại đang hưởng những đặc quyền từ ngân hàng mẹ, trong đó có việc được vay vốn với lãi suất thấp để kinh doanh chứng khoán.

Theo một quan chức Vụ Chính sách tiền tệ NHNN: “Ngân hàng có nhiều thông tin, mạnh về tài chính, có lợi thế hơn hẳn khi tham gia thị trường chứng khoán. Điều đó bất công với các nhà đầu tư khác”.

Trên thực tế, hầu hết các ngân hàng đều hỗ trợ vốn cho các Cty chứng khoán trực thuộc, có những ngân hàng quốc doanh cho vay đến 2.000-3.000 tỷ đồng.

 
"Chừng nào tôi còn ngồi quản trị ở Ngân hàng Trung ương, chừng đó tôi vẫn theo đuổi nguyên tắc hoạt động ngân hàng phải an toàn, rạch ròi"
Vì thế, việc tách bạch hoạt động kinh doanh giữa ngân hàng với Cty chứng khoán trực thuộc là cần thiết để tạo sự bình đẳng trong đầu tư chứng khoán.

Ông Lê Xuân Nghĩa thì nói quyết định trên không có nghĩa là “siết chặt cho vay chứng khoán, mà là bảo vệ, cho vay hợp lý, tránh rủi ro để thị trường ổn định”.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, khi cấm các ngân hàng cho Cty chứng khoán trực thuộc vay vốn để kinh doanh chứng khoán, thì trên thực tế Cty chứng khoán vẫn có thể vay vốn ở ngân hàng khác.

Thống đốc Lê Đức Thúy giải thích, ngân hàng có thể làm một tập đoàn kinh doanh đa năng, nhưng tính chất nhạy cảm của hoạt động này đòi hỏi kinh doanh cái gì thì phải bị giới hạn bởi các hệ số an toàn của bản thân nó.

Ông Thúy nhắc lại bài học đổ vỡ của một số ngân hàng trước đây như Việt Hoa, Châu Á - Thái Bình Dương, Nam Đô…  “Lúc đó, nhiều nhà kinh doanh khó vay được vốn ngân hàng, nên đã nghĩ ra cách “rất hay” là… tự thành lập ngân hàng. Sau đó, huy động được vốn bao nhiêu thì đưa về đầu tư cho chính các dự án của họ là bất động sản. Đến lúc thị trường bất động sản biến động xấu, bán không được thì ngân hàng mất khả năng thanh toán” - Ông Thúy phân tích.

Đối với thị trường chứng khoán, với mức tăng trưởng như hiện nay, khả năng này rất có thể sẽ xảy ra, nên việc hạn chế là cần thiết để tránh đổ vỡ.

Theo Tiền Phong

Các tin liên quan