23.11.2006 14:54

Công nghệ thông tin ngân hàng trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã tập trung đầu tư trang bị hệ thống công nghệ thông tin bao gồm phần cứng, phần mềm, viễn thông và các sản phẩm ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới, hiện đại với kinh phí đầu tư tăng nhanh qua các năm (từ hơn 1.000 tỷ đồng trong năm 2001 lên đến gần 10.000 tỷ đồng trong năm 2005). Quy mô triển khai được mở rộng từ Ngân hàng Trung ương tới các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, từ Hội sở chính tới các chi nhánh ngân hàng thương mại. Hệ thống máy tính được liên kết trong toàn ngành trên cơ sở mạng diện rộng đã và đang phục vụ tích cực và hiệu quả cho công tác xử lý các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.

Lựa chọn công nghệ với hệ điều hành Unix, cơ sở dữ liệu (Oracle, DB/2, SQL và tương đương), ngôn ngữ lập trình (.Net, Java, Delphi., C++/Visual C, Viusal Basic... ), mạng cục bộ (LAN) với cấu trúc hình sao, mạng diện rộng (WAN) với các phương thức truyền thông đa dạng (LeasedLine, ISDN, X.25, E1, cáp quang...), hệ thống an ninh bảo mật mạng, cơ sở dữ liệu, giao dịch điện tử ngân hàng được bảo vệ theo nhiều lớp với các trang thiết bị chuyên dùng hiện đại (tường lửa, mã hoá dữ liệu áp dụng thuật toán 128/256 bits, các thiết bị chuyên dụng nhằm phát hiện, giám sát, cảnh báo truy nhập, chữ ký điện tử, chứng thực điện tử...) đã đảm bảo được sự liên kết tự động và truy nhập nhanh chóng với số lượng lớn người sử dụng trong cùng một mạng, khả năng an toàn bảo mật hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin rất cao, vì là hệ thống mở nên có thể dễ dàng câng cấp, mở rộng và kết nối kỹ thuật với những hệ thống khác. Giải pháp công nghệ này đã làm cho công nghệ thông tin ngân hàng thực sự đáp ứng được nhu cầu xử lý ngày càng gia tăng của hoạt động ngân hàng khi khối lượng giao dịch mỗi năm tăng bình quân từ 30% đến 35%.

Các QTDND từng bước chủ động ứng dụng máy vi tính và công nghệ thông tin để quản lý và phục vụ khách hàng, thành viên chuyên nghiệp hơn.

Theo số liệu thống kê từ các ngân hàng, hơn 85% các nghiệp vụ ngân hàng đã được xử lý bằng máy tính ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng được xử lý trên mạng thay vì trên máy tính đơn lẻ như trước đây, nhiều nghiệp vụ đã được xử lý tức thời và theo hướng tự động hoá. Nhiều dịch vụ ngân hàng điện tử đã được các ngân hàng cung cấp, trong đó có một số dịch vụ ngân hàng trên mạng Internet như vấn tin, chuyển khoản, chuyển tiền, chuyển đổi ngoại tệ và thanh toán hoá đơn.

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước chủ trì là hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến (Online) hiện đại nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế và hoạt động rất hiệu quả kể từ tháng 5/2002 đến nay. Hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng thương mại cũng đã hoàn thành và đưa vào vận hành kể từ cuối năm 2003. Lợi ích mang lại từ hiện đại hoá hoạt động thanh toán không chỉ làm giảm đáng kể thời gian thanh toán giúp tăng nhanh vòng quay vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế mà còn là cơ sở cho các ngân hàng thực hiện dịch vụ ngân hàng điện tử, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam và hạn chế thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, những kết quả này vẫn chưa đủ để đưa công nghệ thông tin ngân hàng Việt Nam đạt đến trình độ tiên tiến so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện hoạt động ngân hàng trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới. Sự phát triển công nghệ thông tin giữa các ngân hàng không đồng đều, điều này đang cản trở việc ứng dụng các bài toán nghiệp vụ mang tính toàn Ngành, gây khó khăn cho việc hợp tác khai thác các dịch vụ ngân hàng và dẫn đến tình trạng đôi khi phải kết hợp giữa xử lý thủ công và tự động. Cơ sở pháp lý chưa theo kịp những đòi hỏi của ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, làm chậm lại quá trình hiện đại hoá ngân hàng. Đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin ngân hàng đã tăng cả về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yều cầu phát triển. Cơ sở viễn thông quốc gia đã được nâng cấp cải thiện nhiều nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng.

Một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến sự hạn chế trong phát triển công nghệ thông tin ngân hàng là ngành Ngân hàng cũng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của bối cảnh chung về tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của Việt Nam hiện nay trong điều kiện mức thu nhập của xã hội còn thấp và đội ngũ kỹ sư trình độ đại học ngành công nghệ thông tin được đào tạo chính quy chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của xã hội. Một số nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ bản thân ngành Ngân hàng là một số ngân hàng nhỏ chưa đủ năng lực tài chính để đầu tư cho việc hiện đại hoá công nghệ thông tin của chính mình; chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin ngân hàng chưa cạnh tranh được với một số ngành, lĩnh vực khác nên còn thiếu và yếu về nguồn nhân lực.

Để rút ngắn khoảng cách về công nghệ thông tin ngân hàng với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành Ngân hàng cần chú trọng phát triển công nghệ thông tin theo chuẩn mực quốc tế với nguồn vốn hợp lý và đầu tư có trọng điểm trên cơ sở cơ cấu lại tỷ lệ đầu tư các lĩnh vực công nghệ thông tin (phần cứng, phần mềm, mạng và viễn thông), ưu tiên cho đào tạo, coi trọng các sản phẩm đầu tư trí tuệ, sản phẩm phần mềm nhằm mục tiêu phấn đấu đến năm 2010, tất cả các nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu được tự động hoá.
Để tạo nền tảng cơ sở kỹ thuật vững chắc cho việc mở rộng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới thì ưu tiên hàng đầu trong phát triển công nghệ tin học ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo là nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thanh toán quốc gia. Để đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho hoạt động ngân hàng, cần chú trọng ứng dụng hiệu quả các thành tựu công nghệ thông tin trong công tác thanh tra, giám sát, kiểm soát.

(Theo NHNN)

Các tin liên quan