tin trong ngay, bao moi, tin nong, bao moi
 Tin tức - Sự kiện
 Chủ trương - Chính sách
 Thông tin cảnh báo
 Nghiên cứu trao đổi
 Hoạt động đoàn thể
 Trang văn hóa
 Học tập theo gương Bác
 Người tốt - Việc tốt
Đăng nhập
Đăng ký mới
Quên mật khẩu?
Thăm dò ý kiến

Nội dung trang web?
Rất đẹp
Đẹp
Trung Bình
Xấu
Rất xấu



 
 Tin tức - Sự kiện

Tổng tài sản hệ thống ngân hàng vượt 9,4 triệu tỷ đồng

(Cập nhật ngày: 26/02/2018 - 12:00:00 AM )

Tổng tài sản của nhóm NHTM Nhà nước vẫn áp đảo nhóm NHTM Cổ phần. Tuy nhiên, xét về vốn tự có, nhóm NHTM Cổ phần lại nhỉnh hơn.

Tổng tài sản hệ thống ngân hàng vượt 9,4 triệu tỷ đồng

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa cập nhật thống kê về một số chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. Theo đó, tính đến hết ngày 31/10/2017, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đạt trên 9,4 triệu tỷ đồng, tăng 10,87% so với hồi đầu năm.

Nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước vẫn áp đảo với tổng tài sản gần 4,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,15%. Lượng tài sản này chiếm 45,5 tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng.

Trong khi đó, tổng tài sản nhóm NHTM Cổ phần đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng, tăng 10,18% so với đầu năm và chiếm 30% tổng tài sản hệ thống.

Xếp sau là nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài với 925.157 tỷ đồng, tăng 11,69%; Ngân hàng Chính sách xã hội với 177.234 tỷ đồng, tăng 11,04%; công ty tài chính, cho thuê tài chính với 133.556 tỷ đồng, tăng 16,78%; quỹ tín dụng nhân dân với 101.744 tỷ đồng, tăng 12,91% và sau cùng là Ngân hàng Hợp tác xã với 26.409 tỷ đồng, tăng 0,09%.

Về vốn tự có, nhóm NHTM Nhà nước lại xếp sau nhóm NHTM Cổ phần, 246.891 tỷ so với 277.070 tỷ; mức tăng so với đầu năm cũng thấp hơn, 7,58% so với 8,67%. Trong khi đó, vốn tự có của nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 141.692 tỷ đồng, tăng 8,2%; nhóm công ty tài chính, cho thuê tài chính là 22.828 tỷ đồng, tăng 2,6%.

Tựu chung, tổng vốn tự có toàn hệ thống ngân hàng đạt 692.162 tỷ đồng, tăng 7,93% so với hồi đầu năm.

Về vốn điều lệ, nhóm NHTM Nhà nước 10 tháng qua gần như không tăng (chỉ 0,82%), đạt 147.748 tỷ đồng; trong khi nhóm NHTM Cổ phần tăng 4,57%, đạt 210.033 tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài tăng 5,04%, đạt 109.351 tỷ đồng.

Đặc biệt, nhóm công ty tài chính, cho thuê tài chính ghi nhận mức tăng vốn điều lệ tới 9,32%, đạt 21.537 tỷ đồng.

Về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), tất cả các nhóm tổ chức tín dụng đều trên giới hạn quy định. Tuy nhiên, CAR của nhóm NHTM Nhà nước (tính theo cách cũ) đang khá sát giới hạn 9%, hiện ở mức 9,63%. CAR của nhóm NHTM Cổ phần khá cao, hiện ở mức 11,54%.

Vềtỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, cả nhóm NHTM Nhà nước lẫn Cổ phần đềuđã đưa về dưới mức giới hạn 40% theo quy định, lần lượt đạt 35,66% và 35,9%. 

Theo Vietnam Finance
 
   In    Lưu    Gửi tiếp  

Các bài đã đăng

Các tin khác

Điểm tin
 Hoàn thiện công cụ “tự kiểm” Quỹ tín dụng nhân dân
 Thông báo mất sổ tiền gửi tiết kiệm trắng
 Hải Dương đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống QTDND
 Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu
 Triển khai các giải pháp tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng
 Đào tạo Kỹ năng nghiệp vụ cho vay trong hoạt động của QTDND
 Dấu ấn ngân hàng những tháng đầu năm 2019: Góp phần nâng hạng tín nhiệm quốc gia
 Chỉ thị 06/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Điểm tựa củng cố nội lực cho hệ thống QTDND
 Quỹ Tín dụng nhân dân Thụy Dương: Nhiều giải pháp tăng trưởng tín dụng
 Tăng tính liên kết cho QTDND
 NHNN ban hành Kế hoạch hành động triển khai Chỉ thị 12/CT-TTg, góp phần hạn chế “tín dụng đen” ​
 Lãi suất đang chịu nhiều sức ép
 5 cách để gia tăng lòng trung thành khách hàng Quỹ tín dụng
 Tìm động lực cho phát triển bền vững hệ thống QTDND
 Quỹ tín dụng nhân dân Thanh Nê: Tiếp vốn cho người dân làm giàu
 Nâng cao năng lực nghiệp vụ gắn liền với tăng tính liên kết hệ thống
 Mô hình Ngân hàng đại lý – Cơ hội và thách thức cho các QTDND tại Việt Nam
 Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh
 Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tác động thế nào đến thị trường tài chính, chứng khoán, tiền tệ Việt Nam?
 Hệ thống QTDND tỉnh Phú Thọ đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương