HỖ TRỢ, HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN
  Thứ sáu 10/09/2010 Thông điệp | Liên hệ | Trợ giúp | Sơ đồ website | English| Đăng nhập 
Bạn cần biết
Gía vàng
Tỷ giá
Thời tiết
Truyền hình
Khác
Đăng ký Email
Đăng ký nhận tin
Sổ lưu niệm
Thống kê website
Đăng nhập
Đăng ký mới
Quên mật khẩu?


Lượt truy cập:
000562959
 
 Tin tức - Sự kiện

Điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng 02 tháng đầu năm và giải pháp trong thời gian tới

(Cập nhật ngày: 05/03/2010 - 01:43:28 PM )

I. TÌNH HÌNH CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 02 THÁNG ĐẦU NĂM 2010
Kinh tế trong nước có xu hướng tăng trưởng cao, thị trường tài chính, tiền tệ và kinh tế vĩ mô về cơ bản là ổn định. So với cùng kỳ năm 2009, sản xuất công nghiệp tăng 13,6%, xuất khẩu tăng 0,1%, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 27,4%, vốn đầu tư của ngân sách nhà nước so với kế hoạch đạt 10,6%. Mặc dù vậy, giá cả hàng hoá tiêu dùng trong nước tăng ở mức khá cao. Chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm nay tăng 3,35%, hầu hết các nhóm mặt hàng đều tăng; trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,27%, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,44%, nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,44%. Tuy chỉ số giá tiêu dùng cao hơn mức tăng của 2 tháng cùng kỳ năm 2009 (1,49%), nhưng không tăng đột biến so với cùng kỳ các năm gần đây (2004: 4,13%, 2005: 3,6%, 2007: 3,24%, 2008: 6,02%). Các nguyên nhân chủ yếu là: 
- Giá cả hàng hoá thế giới có xu hướng tăng (giá dầu thô tăng 24,9% so với giá trung bình năm 2009, sắt thép tăng 4,3%, gạo tăng 11,2%...). Với độ mở nền kinh tế cao (kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP cuối năm 2009 khoảng 135%), giá cả hàng hoá thế giới đã tác động làm tăng giá cả trong nước do nhập khẩu và giá thành sản phẩm tăng lên.   
- Nhu cầu tiêu dùng và sức mua tăng mạnh trong dịp Tết Nguyên đán, biểu hiện là tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 27,4% (nếu trừ yếu tố giá, thì tổng mức bán lẻ tăng 19,36%, gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2009 - 4,47%), nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đóng góp 63% vào mức tăng giá cả hàng hoá tiêu dùng.
- Lương tối thiểu của khu vực ngoài nhà nước tăng, giá một số mặt hàng thiết yếu được điều chỉnh tăng theo lộ trình giá thị trường như xăng tăng hai lần 6,5%, một số địa phương tăng giá nước sinh hoạt khoảng 50%. Việc điều chỉnh tăng giá đã tác động làm tăng mặt bằng giá cả hàng hoá tiêu dùng.
- Doanh nghiệp và người dân có tâm lý (kỳ vọng) lo ngại về tình trạng tăng giá cả hàng hoá, tác động đẩy giá nhiều mặt hàng đứng ở mức cao, trong khi cung hàng hoá trên thị trường khá dồi dào.
- Nhân tố tiền tệ tác động tới giá cả hàng hoá là bội chi ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng, nhưng tín dụng ngân hàng đã được kiểm soát tăng ở mức thấp từ những tháng cuối năm 2009, cho nên tác động đối với giá cả hàng hoá không lớn so với các nhân tố khác. Từ tháng 7/2009, NHNN dự báo những tác động không thuận lợi của các giải pháp kích thích kinh tế đối với thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đã thực hiện các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp (năm 2009, tháng 1: 0,65%, tháng 2: 1,16%, tháng 3: 4,11%, tháng 4: 4,33%, tháng 5: 4,01%, tháng 6: 4,44%, tháng 7: 2,75%, tháng 8: 2,47%, tháng 9: 3,46%, tháng 10: 2,33%, tháng 11: 2,01%, tháng 12: 0,72%; năm 2010, tháng 1: 0,26%, tháng 2: 1,14%).
Như vậy, giá cả hàng hoá tiêu dùng tăng ở mức khá cao trong những tháng đầu năm nay, nhưng so với cùng kỳ các năm gần đây chưa phải là đột biến. Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu làm cho giá cả hàng hoá tiêu dùng tăng là do tác động của giá cả hàng hoá thế giới, nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và việc điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng thiết yếu.
    
II. GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 02 THÁNG ĐẦU NĂM 2010
1.1. Điều hành lượng tiền cung ứng thông qua điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn để đảm bảo an toàn thanh toán của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế: Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng, làm tăng nguồn vốn để cho vay khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng), giảm chi phí huy động vốn khoảng 0,1% và tác động ổn định tỷ giá. Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở 2 phiên/ngày, kéo dài thời hạn chào mua giấy tờ có giá từ 14 ngày lên 28 ngày, lãi suất 8%/năm. Cho vay (tái cấp vốn) cầm cố giấy tờ có giá và hồ sơ tín dụng, thời hạn 1 tháng để hỗ trợ thanh khoản, thời hạn 3 tháng để mở rộng tín dụng; lãi suất 8%/năm. Theo tính quy luật hàng năm, các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản trong dịp giáp Tết Nguyên đán Canh Dần, NHNN đã tăng lượng tiền cung ứng với kỳ hạn thích hợp cho các NHTM, đảm bảo khả năng thanh toán, mở rộng cho vay chi phí sản xuất, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn; sau Tết Nguyên đán Canh Dần, do tiền gửi dân cư vào hệ thống ngân hàng tăng lên, số tiền cung ứng này đã được thu về, ít tác động đến lạm phát. Vốn khả dụng của các NHTM trước Tết Nguyên đán Canh Dần dư thừa khoảng 13.000 tỷ đồng và hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng. 

1.2. Điều hành linh hoạt công cụ lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật, mục tiêu kinh tế vĩ mô và điều kiện của thị trường, kết hợp với các công cụ khác nhằm điều tiết lãi suất thị trường ở mức hợp lý, tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế: Giữ ổn định lãi suất cơ bản 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu 6%/năm. Lãi suất cho vay VND của NHTM tối đa là 12%/năm, lãi suất thị trường liên ngân hàng biến động không lớn (8 – 10%/năm), lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 12 tháng dưới 11%/năm; lãi suất huy động bằng USD khoảng 3 – 4%/năm và cho vay khoảng 5 – 8%/năm. NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thoả thuận của TCTD đối với khách hàng, trong đó, mở rộng cho vay trung, dài hạn bằng VND theo lãi suất thoả thuận phù hợp với Nghị quyết số 23/2008/QH12 ngày 06/01/2010 của Quốc hội vÒ kÕ ho¹ch ph¸t triÓn kinh tÕ – x· héi n¨m 2009 và chỉ đạo của Thường trực Chính phủ. Theo đó, tạo điều kiện cho các TCTD tăng khả năng huy động và cho vay đối với nền kinh tế, dư nợ cho vay bằng VND đối với vốn lưu động sản xuất – kinh doanh được kiểm soát tối đa theo lãi suất cơ bản.
1.3. Điều chỉnh tỷ giá, thực hiện các biện pháp chống găm giữ và đầu cơ, can thiệp bán ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu nhằm từng bước tạo sự chuyển biến tích cực của thị trường ngoại tệ: Trước tình hình thanh khoản ngoại tệ trên thị trường cải thiện chậm, nhằm cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô, ngày 10/02/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng (TCTD) là 1%/năm và quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 11/02/2010 là 18.544 VND/USD (tăng 3,36%). Việc điều chỉnh tăng tỷ giá có tác dụng: (1) Khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu đồng thời buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phải cân nhắc việc sử dụng ngoại tệ, qua đó hỗ trợ kiểm soát nhập siêu; (2) Sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá sát với kỳ vọng tỷ giá của thị trường và quy định trần lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, lợi ích của việc nắm giữ USD đã giảm, do vậy, tâm lý găm giữ ngoại tệ đã phần nào được giải tỏa, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ ra thị trường, qua đó giúp các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với ngoại tệ, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường ngoại hối; (3) Thị trường ngoại hối đang có những chuyển biến tích cực hơn, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu bán ngoại tệ, thanh khoản thị trường được cải thiện. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm nhẹ so với thời điểm trước khi điều chỉnh tỷ giá, khiến chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tự do được thu hẹp từ mức trên 1.000 đ/USD hiện chỉ còn khoảng 300-400 đ/USD. Bên cạnh những tác động tích cực, việc điều chỉnh tăng tỷ giá cũng đem lại một số hệ quả không tránh khỏi như tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài cũng như trả nợ vay bằng ngoại tệ trong nước, tác động làm tăng giá nhập khẩu.
1.4. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn thị trường vàng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: Trên thị trường trong nước, giá vàng biến động theo xu hướng của giá vàng thế giới. Tại nhiều thời điểm, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới tuy nhiên mức chênh lệch có xu hướng giảm dần. Hiện nay, giá vàng trong nước đang ở mức 26,49 tr đ/lượng, cao hơn 500.000 đ/lượng so với giá thế giới (quy đổi tỷ giá NHTM) và 270.000 đ/lượng (quy đổi tỷ giá tự do). Mức chênh này đã giảm đáng kể so với các mức chênh trước đây là 1-1,5 tr đ/lượng (quy tỷ giá NHTM) và 500.000 - 1.000.000 đ/lượng (quy tỷ giá tự do). Tỷ giá ngày 1/3/2010: tỷ giá NHTM = 19.100 đ/USD; tỷ giá tự do = 19.485 đ/USD). Để bình ổn thị trường vàng trong nước, đưa giá vàng trong nước quy đổi bằng tỷ giá thị trường tự do về sát với giá vàng thế giới để tránh tình trạng nhập lậu vàng, từ ngày 5/2 đến ngày 24/2/2010, NHNN đã cho phép Công ty SJC nhập khẩu 6 tấn vàng. Theo báo cáo, Công ty đã bán hết ra thị trường. Sau khi triển khai biện pháp can thiệp thị trường vàng, đến nay, về cơ bản đã đạt được các mục tiêu nói trên. Mức chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước đã được thu hẹp, hạn chế tình trạng nhập lậu vàng và xác định được mức tỷ giá kỳ vọng trên thị trường tự do làm căn cứ điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Đồng thời, để biểu dương thành tích của Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ngày 4/2/2010 đã bắt giữ một số đối tượng thực hiện hành vi, mua bán, vận chuyển trái phép 92 Kg vàng qua biên giới, NHNN đã có các Quyết định số 356/QĐ-NHNN và 359/QĐ-NHNN ngày 25/2/2010 về việc khen thưởng và tặng bằng khen đối với tập thể và các cá nhân tham gia. Về tình hình đóng cửa sàn vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; đối với các NHTM, hiện nay có 3 NHTM đã đóng cửa Sàn giao dịch vàng, các NHTM có Sàn giao dịch vàng khác đều đang tiến hành thực hiện các biện pháp cần thiết để đóng cửa Sàn giao dịch vàng theo đúng thời hạn quy định. Đối với sàn giao dịch vàng khác, theo thông tin từ các trang thông tin điện tử của các Sàn giao dịch vàng thuộc các Công ty chứng khoán và các Sàn giao dịch vàng khác không thuộc NHTM, các Sàn giao dịch vàng này đều đã có thông báo chính thức đóng cửa Sàn giao dịch vàng trước ngày 30/3/2010 theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

1.5. Thị trường tiền tệ về cơ bản ổn định, tiền gửi của tổ chức kinh tế giảm do tăng đầu tư, tiền gửi của dân cư tăng; biểu hiện lòng tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng; tín dụng biến động tăng phù hợp với tính quy luật những tháng đầu năm, đáp ứng đủ nhu cầu cầu tiền mặt trong lưu thông trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần: Tổng phương tiện thanh toán tăng 1,39% so với cuối năm 2009; vốn huy động giảm -0,17%, chủ yếu do tiền gửi của tổ chức kinh tế giảm -5,94%, trong khi tiền gửi của dân cư tăng +5,57%. Tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 1,4% và có xu hướng tăng dần, tương ứng với cùng kỳ của các năm gần đây (2 tháng cùng kỳ năm 2006: -1,45%, năm 2007: +2,09%, năm 2009: +1,82%).
1.6. Chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đi đôi với mở rộng tín dụng, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông thôn, chi phí sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, thu mua nông sản, chế biến và xuất khẩu và các dự án lớn trọng điểm của nhà nước; tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2009 là 2,03%, tháng 2/2010 khoảng 2,09%.
1.7. Chỉ đạo các TCTD thực hiện việc quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm 2009 theo Quyết định số 131/QĐ-TTg và triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với những khoản vay trung và dài hạn bằng VND, khu vực nông thôn: NHNN đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai kịp thời các văn bản hướng dẫn cơ chế hỗ trợ lãi suất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Quyết định số 2072/QĐ-TTg ngày 11/12/2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của các NHTM, công ty tài chính đến ngày 25/02/2010 là 72.201,87 tỷ đồng, trong đó: (i)  Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đối với các khoản giải ngân hàng trong năm 2009 còn được hỗ trợ lãi suất là 70.449,33 tỷ đồng (chiếm 97%), gồm dư nợ cho vay trung và dài là 69.694,72 tỷ đồng; cho vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn là 754,61 tỷ đồng; (ii) Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đối với các khoản giải ngân từ ngày 01/01/2010 là 1.752,54 tỷ đồng (chiếm 3%), gồm dư nợ cho vay trung và dài hạn là 1.656,54 tỷ đồng; cho vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn là 96 tỷ đồng.
1.8. Tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh của các TCTD (tỷ lệ an toàn, thực hiện các quy định của pháp luật về lãi suất và quản lý ngoại hối); hệ thống TCTD nhìn chung hoạt động an toàn, hầu hết các TCTD thực hiện đảm bảo các tỷ lệ về chi trả, an toàn hoạt động; một số NHTM có khó khăn tạm thời, NHNN đã có biện pháp hỗ trợ vốn để tránh tác động xáo trộn thị trường.
1.9. Tăng cường công tác truyền thông và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Như vậy, trong hai tháng đầu năm nay, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm kiểm soát gia tăng tiền tệ ở mức hợp lý, lãi suất và tỷ giá phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo khả năng an toàn thanh toán hệ thống và hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế phù hợp với các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ.                   
3. Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới
Trong những tháng tới đây, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ về các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong năm 2010, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, chủ động và thận trọng để kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 25%, lãi suất và tỷ giá phù hợp với mục tiêu và điều kiện kinh tế vĩ mô, lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông ở mức hợp lý để đảm bảo khả năng an toàn thanh toán hệ thống ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế. Các giải pháp điều hành:
3.1. Điều hành linh hoạt và theo nguyên tắc thị trường công cụ nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ, công cụ dự trữ bắt buộc.
3.2. Điều chỉnh linh hoạt và thận trọng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, kết hợp với kiểm soát tín dụng theo mục tiêu.
3.3. Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá linh hoạt trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại và các kênh đầu tư khác nhằm khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, theo đó điều chỉnh linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng hoặc tăng giảm ở mức độ hợp lý, phù hợp với tín hiệu thị trường, có sự điều tiết của nhà nước, đảm bảo mục tiêu ổn định giá trị VND.
3.5. Tiếp tục chỉnh sửa và bổ sung các cơ chế, chính sách về huy động vốn, tín dụng, tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tế của thị trường tài chính, tiền tệ trong nước.
3.6. Xây dựng kế hoạch, lộ trình với hệ thống các biện pháp khả thi để hạn chế sử dụng tiền mặt trong thanh toán, tăng vòng quay và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
3.7. Làm tốt công tác thông tin và truyền thông về điều hành chính sách tiền tệ, coi đây là yếu tố quan trọng để chính sách tiền tệ được vận hành có hiệu quả.

Theo Ngân hàng  Nhà nước
 
   In    Lưu    Gửi tiếp  

Các bài đã đăng

Các tin khác

  
Điểm tin
 Ngân hàng Nhà nước công bố số liệu tăng trưởng tín dụng
 Quỹ tín dụng nhân dân Hưng Đông: Góp phần đắc lực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội địa phương
 Thông tin về hoạt động Ngân hàng tháng 8/2010
 QTDND Mỹ Bình - An Giang: Những điểm ưu Việt của chương trình chuyển tiền FT so với thanh toán bù trừ
 Công ty tin học có công văn số 39/CV-CTPTTH gửi các QTDND cơ sở về khảo sát tin học tại QTDND
 Hiệu quả từ mô hình Quỹ tín dụng nhân dân
 Hiệp hội QTDND Việt Nam tổ chức chuyến thăm quan khảo sát tại Trung Quốc
 Thông tin về hoạt động Ngân hàng trong tuần (Từ 13/8/2010-19/8/2010)
 Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tiếp nhận Công đoàn cơ sở Hiệp hội QTDND Việt Nam
 Tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ở mức 8%/năm
 Tổ chức tài chính vi mô đầu tiên đã được thành lập
 Lễ bế giảng lớp đào tạo cán bộ QTDND tại Sơn Tây thành công tốt đẹp
 Những thay đổi chủ yếu của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
 Quỹ Tín dụng Nhân dân Phước Hoà: Trao 12 suất học bổng cho học sinh nghèo học giỏi
 Hà Nội CPI tháng 8 tăng nhẹ
 Hướng dẫn các thủ tục làm Hồ sơ đi tham quan và học hỏi tại Bắc Kinh - Thượng Hải
 Củng cố và nâng cao vị thế của hệ thống QTDND, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn
 QTDND Thị trấn Mộc Châu – Tỉnh Sơn La – Vươn lên trong “bão”
 Thông tin về hoạt động Ngân hàng trong tuần (Từ 6/8/2010-12/8/2010)
 Hội nghị phổ biến Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng
Sự kiện nổi bật
Lễ bế giảng lớp đào tạo cán bộ QTDND tại Sơn Tây thành công tốt đẹp
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – 15 năm xây dựng và phát triển
Sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2010 của Văn phòng đại diện Hiệp hội QTDND Việt Nam tại Thái Bình
Thông báo chuyển trụ sở của  Hiệp hội QTDND Việt Nam và Công ty tin học.
Khai trương QTW Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Website liên Kết
Thăm dò ý kiến

Nội dung trang web?
Rất đẹp
Đẹp
Trung Bình
Xấu
Rất xấu

Trở vể đầu trang 
Ghi rõ nguồn vapcf.org.vn - hiephoiqtdnd.org.vn khi phát hành lại thông tin từ website này!